|
Kiến thức Đầu tư
TRÁI PHIẾU

Trái phiếu – Cách hiểu đơn giản nhất:
| Trái phiếu đơn giản là một khoản “vay nợ” mà Nhà đầu tư đồng ý cho công ty hoặc chính phủ vay tiền với lãi suất được thỏa thuận trước. |
Chẳng hạn, bạn đang đi xem để mua một cái tủ lạnh cho căn nhà mới cùng với người bạn. Vì tuần tới bạn mới nhận lương, do đó bạn vay của người bạn ít tiền để mua, đổi lại bạn sẽ trả tiền lại cho anh ấy ngày hôm sau và mời anh ấy bữa ăn tối chẳng hạn. Người bạn thấy khoản cho vay này hợp lý và cho bạn mượn tiền. Vậy là đôi bên cùng vui vẻ.
Điều này cũng tương tư như khi các công ty hay chính phủ phát hành Trái phiếu (TP). Nói chung, khi doanh nghiệp phát triển và không đủ tiền mặt để trả cho các nhà cung cấp và thiết bị cần thiết để vận hành. Doanh nghiệp có 2 lựa chọn: hoặc
1) bán một phần công ty ra công chúng bằng cách phát hành thêm cổ phiếu; hoặc
2) phát hành TP. Khi công ty phát hành TP, có nghĩa họ vay các Nhà đầu tư (NĐT) và đổi lại doanh nghiệp trả lãi suất định kỳ theo thỏa thuận.
Bản chất vấn đề tương tự như NĐT là ngân hàng cho vay cầm cố tài sản.
Trái chủ (người giữ TP) hưởng mức lãi suất tùy thuộc vào tình hình sức khỏe của công ty. Ví dụ, một công ty hàng đầu ổn định và có ít rủi ro về tài sản nợ, chăng hạn như công ty Exxon, General Electric phát hành trái phiếu với lãi suất 7%, thấp hơn nhiều so với lãi suất 10% của một công ty mới thành lập và chưa ổn định. Theo kinh nghiệm khi đầu tư vào trái phiếu thì “lãi suất càng cao, rủi ro càng nhiều”.
Ai có thể phát hành TP? Chính phủ, chính quyền địa phương, một số các định chế tài chính và các doanh nghiệp.
Khác biệt giữa Trái phiếu và Cổ phiếu là gì?
Cổ phiếu và Trái phiếu là 2 công cụ hoàn toàn khác nhau. Cổ phiếu thể hiện sở hữu trong một công ty. Có nghĩa là doanh nghiệp được cắt thành từng phần nhỏ và đem bán đấu giá từng phần. Trái phiếu là khoản tiền Nhà đầu tư cho công ty vay, đổi lại công ty phải trả lãi suất. Bạn, là trái chủ đóng vai ngân hàng và cho công ty mượn tiền.
Cổ phiếu có khuynh hướng tăng khi Trái phiếu giảm, và ngược lại, mặc dù không phải lúc nào cũng vậy. Đối với một NĐT trẻ lên kế hoạch nắm giữ đầu tư trong 20 năm, thì trái phiếu là một dạng đầu tư bảo thủ. Theo lẽ thường nếu tầm đầu tư của bạn trãi dài trong vòng 15 hay 20 năm, thì bỏ hết tiền vào Cổ phiếu (để đem lại lợi nhuận tốt nhất trong dài hạn) là một quyết định dễ dàng. Vì bạn chẳng cần tiền trong một khoảng thời gian rất dài, bạn có thể vượt qua những khi thị trường lên, xuống. Phân bổ danh mục và Đa dạng danh mục dành cho những ai cần tiền ngay để trang trãi các chi phí như mua nhà, học hành (hoặc lo cho con ăn học đại học) hay các chi phí y tế…
- Cổ phiếu thể hiện sở hữu trong một công ty. Có nghĩa là doanh nghiệp được cắt thành từng phần nhỏ và đem bán đấu giá từng phần.
- Trái phiếu là khoản tiền Nhà đầu tư cho công ty vay, đổi lại công ty phải trả lãi. Bạn đóng vai ngân hàng và cho công ty vay tiền. |
Trái lại, Trái phiếu thích hợp cho những người lo cho tuổi về hưu, muốn nghỉ việc hoặc cần có một khoản an toàn (về tài chính hay lý do tâm lý). Họ trả một khoản tiền cố định có dự tính trước cho chủ nợ, và thay thế khoản lương khi họ sắp bước sang giai đoạn mới trong cuộc đời. Nói chung, họ xem sự an toàn (ví dụ trong trường hợp phá sản, tài sản của công ty sẽ được thanh lý để trả cho Trái chủ trước tiên, còn Cổ đông được chia phần còn lại). Theo lẽ thường thì, Trái phiếu càng an toàn, thì lãi suất chi trả càng thấp (vì bạn đang mua sự an toàn).
Vào độ tuổi của các bạn, nếu bạn có thể mua và giữ cổ phần trong vài chục năm, thì cách khôn ngoan nhất là mua cổ phiếu của các công ty hàng đầu. Những công ty này phải có Bảng cân đối tài chính và thành tích lợi nhuận gia tăng tốt, tái đầu tư cổ tức và giữ các cổ phiếu này đến cuối đời. Lịch sử minh chứng những ai chọn cổ phiếu của 1 công ty hàng đầu và quên hẳn đi, và cuối cùng họ trở nên rất giàu.
Tại sao nên đầu tư vào Trái phiếu?
Phần lớn ai cũng biết về dài hạn, không có gì sánh bằng thị trường Cổ phiếu. Vậy thì tại sao bạn nên đầu tư vào Trái phiếu? Mặc dù về dại hạn, Trái phiếu không hấp dẫn như Cổ phiếu, Trái phiếu lại có những ưu điểm mà Cổ phiếu không có được.
a. Bảo toàn vốn:
Trừ phi chính phủ “sập” hoặc công ty phá sản, Trái chủ vẫn có thể lấy lại phần vốn đã đầu tư. Cổ phiếu, xếp sau Trái phiếu, thường phải gánh lấy những tổn thất và các điều kiện không mấy thuận lợi.
b. Đầu tư cốt lõi:
Ngay cả khi là người thích mạo hiểm với nhiều kênh đầu tư, thì trái phiếu vẫn là kênh đầu tư cốt lõi không thể thiếu trong danh mục đầu tư của bạn nhằm bảo toàn vốn và cân bằng rủi ro.
Tại sao đầu tư vào Trái Phiếu?
• Bảo toàn vốn
• Đầu tư cốt lõi (không thể thiếu được)
• Thu nhập ổn định
• Đa dạng hóa danh mục đầu tư |
c. Thu nhập ổn định:
Trái phiếu cho lãi đều đặn và ổn định, giúp mang lại thu nhập đáng giá cho người về hưu, cá nhân hoặc những ai cần tiền mặt. Ví dụ, nếu một người sở hữu 100.000 USD Trái phiếu với lãi suất 10%/ năm (tức 10.000 USD/ năm), một phần lãi sẽ được chia lại cho Trái chủ hàng năm, cho phép họ có tiền đủ sống hoặc đầu tư đâu đó.
d. Đa dạng hóa danh mục đầu tư:
Nếu một danh mục chỉ toàn là cổ phiếu hay tiền mặt hoặc chỉ đầu tư vào bất động sản, hoặc ngoại tệ, thì rủi ro trong đầu tư là rất lớn khi thị trường đảo chiều. Nếu bạn đầu tư vào nhiều kênh, thì rủi ro sẽ được san sẻ. Nếu cổ phiếu hạ giá, thì có thể bạn sẽ vẫn bảo toàn vốn với trái phiếu chẳng hạn.
Tại sao danh mục đầu tư cần có Trái phiếu?
Nhiều nhà tư vấn tài chính khuyến nghị các nhà đầu tư nên duy trì danh mục đầu tư đa dạng bao gồm trái phiếu, cổ phiếu và tiền mặt theo nhiều tỷ lệ khác nhau, tùy thuộc vào những hoàn cảnh và mục tiêu riêng. Vì đặc trưng trái phiếu là có nguồn thanh toán và hoàn trả vốn gốc có thể dự kiến được nên nhiều người đầu tư vào trái phiếu để bảo toàn và tăng nguồn vốn hoặc để nhận lãi. Bất kể vì mục đích gì – tiết kiệm để
| Vì đặc trưng trái phiếu là có nguồn thanh toán và hoàn trả vốn gốc có thể dự kiến được nên nhiều người đầu tư vào trái phiếu để bảo toàn và tăng nguồn vốn của họ hoặc để nhận tiền lãi đáng tin cậy |
cho việc học đại học của con cái của bạn hoặc để mua nhà mới, tăng thu nhập khi về hưu hoặc bất kỳ mục tiêu tài chính nào khác – thì việc đầu tư vào trái phiếu có thể giúp bạn đạt được các mục tiêu của mình.
Điều đó đặc biệt đúng đối với kế hoạch hưu trí. Chắc hẳn các nhà đầu tư ngày càng tự lực trong việc bảo đảm cuộc sống hưu trí của họ bằng cách đầu tư một phần tiền tiết kiệm của họ vào trái phiếu.
Phân bổ tài sản
Ngay cả nếu bạn còn mới mẻ đối với lĩnh vực đầu tư, bạn chắc cũng có biết vài điều cơ bản nhất trong nguyên lý đầu tư. Bạn học được những điều đó như thế nào? Có khi từ những kinh nghiệm cuộc sống thực tiễn vốn chẳng có liên quan gì đến thị trường chứng khoán.
Ví dụ, có bao giờ bạn để ý một người bán hàng rong thường bán những thứ dường như chăng liên quan nhau - chẳng hạn như “dù” và “kính mát”? Ban đầu, điều này nghe có vẻ kỳ cục. Suy cho cùng thì có ai mua cả 2 thứ cùng một lúc? Có lẽ không – và đó là điểm mấu chốt của vấn đề. Chỉ có chị bán hàng rong mới biết rằng, khi trời mưa thì chị ấy bán ‘dù’ rất dễ dàng, nhưng bán ‘kính mát’ thì chẳng dễ chút nào. Và khi trời nắng thì ngược lại. Khi bán cả 2 thứ - chị bán hàng có thể giảm rủi ro mất tiền nếu chị chỉ bán một loại hàng hóa nếu trời trở nắng hoặc trở mưa.
Nếu bạn thấy điều đó là có lý, bạn có thể bắt đầu hiểu “phân bổ tài sản” và “đa dạng hóa danh mục” là gì. Phân bổ tài sản có nghĩa là chia danh mục đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau như Cổ phiếu, Trái phiếu, Tiền mặt. Tiến trình quyết định tỷ lệ tài sản trong danh mục của mỗi người là điều rất riêng tư và chẳng ai giống ai. Việc phân bổ tài sản có hiệu quả nhất vào bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời sẽ tùy thuộc phần lớn vào Thời hạn đầu tư và Mức độ chấp nhận rủi ro.
Thời hạn đầu tư – là khoảng thời gian bạn mong đợi sẽ đầu tư trong bao nhiêu tháng/ năm để đạt được mục đích tài chính nào đó. Một nhà đầu tư có thời hạn dài sẽ thấy thoải mái hơn khi chấp nhận rủi ro hoặc biến động trong đầu tư hơn, vì anh ta có thể chờ chu kỳ kinh tế chậm chạp trôi qua hoặc chịu đựng những lúc thăng trầm của thị trường. Ngược lại, một NĐT tiết kiệm cho con cái học đại học lại ít muốn mạo hiểm vì anh ta có thời hạn ít hơn.
Mức độ chấp nhận rủi ro – là khả năng sẵn sàng chấp nhận mất một số hoặc tất cả vốn đầu tư để đánh đổi lợi nhuận tiềm năng lớn hơn. Với một NĐT năng nổ, hoặc một người sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro cao, sẽ sẵn sàng chịu mất tiền để có kết quả tốt hơn. Một NĐT bảo thủ, hay một người chấp nhận rủi ro thấp, thường có khuynh hướng bảo toàn vốn đầu tư. Có một câu nói thế này, một NĐT bảo thủ giữ “một con chim trong tay”, trong khi NĐT năng nổ đi tìm “2 con chim trong bụi rậm”.
Khi lãi suất tăng, giá sẽ giảm
Bạn có thể đã từng nghe triết lý: Khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu giảm và ngược lại. Nhưng nếu giống như phần lớn mọi người, bạn cũng chẳng hiểu mô tê tại sao.
Vậy thì đây…
Cho đến nay, chúng ta đang tranh luận về việc NĐT luôn mua Trái phiếu và giữ đó cho đến khi đáo hạn. Nhiều người làm vậy, nhưng nhiều người khác, bao gồm cả dân chuyên nghiệp, mua và bán Trái phiếu trên thị trường mở trước kỳ đáo hạn. Do đó, giá cả của một trái phiếu có thể biến động – đôi khi rất dữ dội. Có nghĩa là bạn có thể không bán trái phiếu bằng mệnh giá.
Chúng ta sẽ tìm hiểu động cơ nào khiến giá cả thay đổi trong một phần khác. Trong phần này, chúng ta xem điều gì xảy ra khi giá lên hoặc xuống. Như bạn biết, kỳ hạn cuống phiếu của một TP và mệnh giá lúc đáo hạn không bao giờ thay đổi một khi đã phát hành. Xem thử một trái phiếu 30 năm có mệnh giá 100.000 Đ và cuống phiếu 6% (6.000 Đ). Nếu giá rớt xuống 80.000 Đ, bạn vẫn nhận lãi 6.000 Đ mỗi năm và 100.000 Đ khi đáo hạn. Nếu giá thị trường lên 120.000 Đ, thì vẫn vậy. Rõ ràng trái phiếu 80.000 Đ có giá hấp dẫn hơn – bạn có thể nhận phần lãi y như thế mà trả giá ít hơn 40.000 Đ.
Vậy “Lãi suất” (yield) là gì?
Lãi suất là con số phản ánh sự thay đổi giá trị nêu trên. Đó là tỷ lệ lợi nhuận mà khoản đầu tư của bạn hứa hẹn sẽ mang lại với giá cả đã định trước.
Hay nói một cách đơn giản lãi suất được xem là “lãi suất hiện tại”, có thể thể hiện qua công thức: Lãi suất = lãi cuống phiếu/ Giá. Khi bạn mua TP bằng với mệnh giá, lãi suất đơn giản chỉ là lãi suất cuống phiếu, hoặc lãi suất. Nhưng khi giá cả biến động, lãi suất tăng hoặc giảm để bù đắp sự thiếu hụt này.
Xem trường hợp TP có lãi suất 6% ở trên. Nếu bạn mua TP này với giá 100.000 Đ, lãi suất đơn giản chỉ là 6% (6.000/100.000). Nhưng nếu giá rớt xuống 80.000 Đ, lãi suất sẽ tăng lên 7.5% Tại sao? Vì lãi cuống phiếu đã được đảm bảo là 6.000 Đ, giờ đây đã là 7.5% của 80.000 Đ mà bạn đã trả cho TP (6.000/80.000). Nếu giá tăng lên 120.000, tỷ lệ sẽ ngược lại.
Lãi suất đến khi đáo hạn
Tuy nhiên, thực tế thường phức tạp hơn nhiều. Khi người ta nói đến lãi suất, thật ra họ muốn nói đến con số khác, đó là “lãi suất đến khi đáo hạn” có nghĩa là tổng lợi nhuận họ có được nếu họ mua TP với một giá trị cố định và giữ cho đế kỳ đáo hạn. Lãi suất đến khi đáo hạn bao gồm trái phiếu bạn mua với giá 80.000 Đ, đến khi đáo hạn bạn sẽ nhận lại 100.000 Đ. Nó cũng tính đến việc bạn tái đầu tư cuống phiếu với cùng tỷ lệ lãi suất và còn số lãi gộp. Trong ví dụ trên, nếu bạn thêm 20.000 Đ và lãi gộp của việc tái đầu tư cuống phiếu, lãi suất đến kỳ đáo hạn sẽ là 7.73% - quả là hấp dẫn hơn cuống phiếu gốc là 6%. Một khi bạn nắm được mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lãi suất, bạn sẽ sẵn sàng bước vào thị trường trái phiếu phức tạp: Nếu lãi suất và giá cả đi ngược chiều nhau, làm sao lãi suất cao và giá cao đuợc xem là các nhân tố tốt?
Câu trả lời tùy thuộc vào quan điểm của bạn. Nếu bạn mua TP, bạn muốn có lãi suất cao, do đó bạn muốn trả 80.000 Đ cho trái phiếu trị giá 100.000 Đ. Tuy nhiên, một khi bạn sở hữu TP đó, bạn luôn muốn bán giá cao. Bạn không muốn lãi suất tăng, và nếu giá tăng thì quá tốt – đặc biệt khi bạn muốn bán TP để lấy tiền mặt.
Không có gì là không có rủi ro – ngay cả Trái phiếu
Ngay cả khi được xem là kênh đầu tư an toàn hơn cổ phiếu, trái phiếu vẫn tồn tại rủi ro:
• Rủi ro lãi suất: khi lãi suất tăng, giá trái phiếu giảm. Nếu bạn cần tiền và bán TP trước khi đáo hạn khi lãi suất tăng, có thể bạn sẽ bán dưới giá thành bạn đã mua. Rủi ro lãi suất sẽ giảm dần khi gần đến kỳ đáo hạn.
• Rủi ro tín dụng: nếu nhà phát hành TP gặp khó khăn tài chính hoặc tuyên bố phá sản, thì theo luật sẽ ưu tiên chi trả cho Trái chủ trước.
• Rủi ro thanh khoản: nếu nhà phát hành bị đánh giá thấp hoặc lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất cuống phiếu, Nhà đầu tư sẽ khó bán ra vì không thể tìm người mua. TP thường có tính thanh khoản cao hơn khi mới phát hành vì lúc đó có nhiều giao dịch trái phiếu lô lớn.
• Rủi ro tái đầu tư: Nếu TP có thể tái đầu tư, nhà phát hành có thể trao đổi trước khi đáo hạn, vào một ngày được xác định với giá cả thỏa thuận. TP thường sẽ được tái đầu tư khi lãi suất giảm, khiến NĐT tiếp tục tái đầu tư với lãi suất thấp.
Đa dạng hóa rủi ro bằng cách xây dựng danh mục đầu tư:
Nhà đầu tư TP có thể đa dạng hóa rủi ro bằng cách mua TP của nhiều nhà phát hành khác nhau với nhiều kỳ hạn.
Chứng khoán Ngân khố có các mệnh giá 100.000 Đ, nhưng TP chính quyền địa phương hoặc doanh nghiệp thường giao dịch theo lô lớn đến 50 triệu đồng. Giá mua TP phiếu bao gồm hoa hồng hay “số tiền cộng thêm” vào giá, tùy thuộc vào việc bạn mua TP từ công ty môi giới hay tận tay nhà phát hành.
Thực hiện chiến lược đa dạng hóa đầu tư hiệu quả đòi hỏi phải có một sự khởi đầu đầu tư tối thiểu quan trọng. Trong khi chưa có một đòi hỏi cụ thể nào, theo nguyên tăc chung thường là ít nhất 30 tỷ đồng hoặc hơn nữa để xây dựng một danh mục trái phiếu đa dạng.
QUỸ ĐẦU TƯ ĐẠI CHÚNG
 |
Bài 1: Quỹ đầu tư_Nhịp cầu đưa mọi người vào Thị trường Chứng khoán |
 |
Download |
 |
Bài 2: Những khái niệm cơ bản về đầu tư chứng khoán |
 |
Download |
 |
Bài 3: Rủi ro |
 |
Download |
 |
Bài 4: Quản lý rủi ro trong đầu tư |
 |
Download |
 |
Bài 5: Quản lý QĐT trên thế giới |
 |
Download |
 |
Bài 6: Thị trường chứng khoán VN |
 |
Download |
 |
Bài 7: Quản lý Nhà nước |
 |
Download |
 |
Bài 8: Prudential - Kinh nghiệm và kỹ năng quản lý quỹ |
 |
Download |
 |
Bài 9: PRUBF1 |
 |
Download |
 |
Bài 10: Hỏi đáp về PRUBF1 |
 |
Download |
|